hướng dẫn hồ sơ ukraine

HƯỚNG DẪN VISA UKRAINE

Những năm gần đây, Ukraine  là điểm đến được các bạn học sinh Việt Nam đặc biệt quan tâm bởi chất lượng giáo dục cao và chi phí cực rẻ, thủ tục lại rất đơn giản.

Ukraine là quốc gia thuộc khu vực Đông Bắc Châu Âu. Với cảnh quan tươi đẹp, khí hậu mát mẻ quanh năm nên đất nước này thu hút khá đông khách du lịch và du học sinh đến tham quan, học tập. Hệ thống giáo dục đại học trong lĩnh vực Y khoa ở Ukraina có lịch sử phát triển lâu đời và các giảng viên ở đây dày dạn kinh nghiệm. Bằng cấp của các trường đại học ở Ukraina được toàn thế giới công nhận. Ngoài ra, chi phí học tập và sinh hoạt ở Ukraina cũng rẻ hơn rất nhiều so với các nước Châu Âu khác, vì vậy rất nhiều học sinh quốc tế, trong đó có sinh viên Việt nam theo học ở đây. Ngôn ngữ giảng dạy chủ yếu trong các trường đại học là tiếng Nga, tiếng Ukraina và tiếng Anh.

hướng dẫn visa Ukraine

Hướng dẫn visa Ukraine

Vậy để các sinh viên có thể tiếp cận gần hơn với ước mơ du học ngành Y khoa tại Ukraina. Công ty tư vấn du học Minh Hoàng An sẽ cung cấp cho các bạn thủ tục xin cấp visa du học Ukraine năm 2018.

Hồ sơ xin visa du học Ukraine gồm những giấy tờ gì?

Sinh viên phải nộp các giấy tờ sau để có được visa D (chỉ được lưu trú ở Ukraina tối đa 45 ngày):

  1. Đơn xin cấp thị thực
  2. Thư nhập học gốc cuả trường Đại học ở Ukraine
  3. Hộ chiếu
  4. Ảnh 3×4
  5. Bằng tốt nghiệp THPT/ đại học
  6. Học bạ & Bảng điểm
  7. Bản sao giấy khai sinh;
  8. Giấy khám sức khoẻ chứng nhận không mắc bệnh truyền nhiễm không quá 2 tháng trước khi nhập học ở Ukraine
  9. Giấy khám sức khoẻ (tổng quát)
  10. Giấy xác nhận chuyến bay khứ hồi với thời gian đi và về ít nhất 50 ngày (trình vé máy bay với Đại sứ quán sau khi đã được Bộ di trú Ukraine chấp nhận)
  11. Giấy xác nhận của ngân hàng về thanh toán chi phí học tập;
  12. Giấy tờ chứng minh khả năng tài chính của du học sinh khi học tập ở Ukraine
  13. Lệ phí visa là 85 USD

Những lưu ý cần thiết khi xin visa du học Ukraine:

– Các giấy tờ xin thị thực nộp cho đại sứ quán không có hẹn trước thì nộp vào các ngày sau: Thứ Hai, Thứ Tư, Thứ Sáu-9: 00-12: 00, 14: 00-15: 00

– Các tài liệu được đề cập ở mục 5-7 trên phải được dịch sang tiếng Ukraina và được hợp pháp hóa tại Cục Lãnh sự Bộ Ngoại giao Việt Nam.

– Theo quy định thị thực, visa du học được cấp từ ngày 15 tháng 8 đến ngày 15 tháng 11.

– Khi đến Ukraine, sinh viên sẽ được cấp visa D dài hạn (với thời hạn trên hộ chiếu là 45 ngày), sinh viên nên liên hệ với  Sở Dịch vụ Di trú gần nhất ở Ukraine để làm các thủ tục giấy tờ hợp pháp, cho phép du học sinh ở Ukraine hơn 45 ngày.

Mọi thắc mắc về du học Ukraine hoặc visa Ukraine vui lòng liên hệ Trung tâm tư vấn du học Minh Hoàng An để được tư vấn cụ thể và miễn phí!

du học ukraine và những câu hỏi thường gặp.

DU HỌC UKRAINE VÀ 28 CÂU HỎI THƯỞNG GẶP.

1.Khóa học dự bị là gì?
Khóa học dự bị là một chương trình giáo dục đặc biệt với thời gian 1 năm học (6-10 tháng). Tại khóa học dự bị sinh viên học tiếng Nga và các môn chuyên ngành cần thiết tùy thuộc vào các chuyên ngành được lựa chọn ( VD: Toán học, vật lý, hóa học, sinh học, tin học, địa lý, lịch sử, văn học,…). Sau khi hoàn thành khóa học dự bị sinh viên nhận được Giấy chứng nhận tốt nghiệp dự bị . Giấy chứng nhận này cung cấp cho học sinh một quyền vào bất cứ trường đại học nào Ukraine mà không có kỳ thi tuyển sinh. Nhưng nếu sinh viên lựa chọn đào tạo bằng tiếng Anh thì không cần phải học khóa dự bị, có nghĩa là sinh viên sẽ được tuyển trực tiếp vào năm đầu tiên của khóa học cử nhân cho đến 30 tháng 11. Khóa học dự bị bắt đầu vào tháng 9, và hạn cuối là tháng 2 hàng năm tùy thuộc vào sự hình thành của nhóm (5-8 sinh viên). Sau khi hoàn thành khóa dự bị sinh viên có thể tham gia các chương trình học bằng tiếng Nga với học phí thấp hơn nhiều so với tiếng Anh.

Học phí khóa dự bị tại các trường đại học Ukraine năm 2013 dao động từ 1200$ đến 1700$

2.Du học Ukraine khác gì du học Nga?

Ukraine là quốc gia lớn thuộc liên bang xô viết cũ, thời kỳ Xô viết Ukraine là nước dẫn đầu Châu Âu về sản xuất công nghiệp và cũng là một trung tâm quan trọng của ngành công nghiệp và nghiên cứu kỹ thuật cao của Liên xô điển hình như chế tạo máy công nghiệp, động cơ máy kéo, turbin, máy bay, xe tăng, đóng tầu, tên lửa, công nghệ vũ trụ,… Kinh tế Ukraine chiếm tới 30% kinh tế Xô Viết. Sau khi liên xô tan rã Ukraine được thừa hưởng nền giáo giục chất lượng cao của Xô Viết, Ukraina từ bỏ chính sách ưu tiên quân đội, vũ khí hạt nhân chiến lược để tăng cường hợp tác với các nước phương tây đầu tư cho giáo dục và an sinh xã hội. Chính vì vậy mà chi phí học tập tại Ukraine thuộc dạng rẻ nhất thế giới, đến nay hệ thống giáo dục Ukraine không ngừng được nâng cao, bằng cấp các trường đại học của Ukraine được công nhận trên toàn thế giới. Ukraine thu hút được rất nhiều sinh viên từ khắp thế giới điển hình là các quốc gia Châu Phi, Trung Quốc, Trung Đông, Nam Mỹ và thậm chí rất nhiều sinh viên Nga theo học.

Vì thế cho nên với một hệ thống giáo dục tương đồng, thậm chí còn hơn Nga trên nhiều lĩnh vực và với chi phí chỉ bằng một nửa thì du học Ukraine vẫn là một sự lựa chọn lý tưởng.

3. Phải đầu tư bao nhiêu tiền để đi du học Ukraine?

Trả lời: Du học Ukraine ngoài khoản chi phí dịch vụ ban đầu (phí dịch vụ, vé máy bay, visa, giấy mời, đưa đón sân bay,…) thì du học sinh phải nộp khoảng 2000 – 3000$ tiền học phí một năm học (1500$ đối với năm dự bị), 100$ tiền bảo hiểm, 350$ tiền ký túc xá, từ 100$ chi phí ăn uống sinh hoạt/1 tháng(1200$/năm) tổng cộng từ 3450$/1 năm tương đương 6 triệu đồng trên 1 tháng. Nếu gia đình có thể bỏ ra được 6 triệu đồng trên 1 tháng là bạn có thể yên tâm du học tại Ukraine.

4. Có cơ hội làm thêm cho du học sinh tại Ukraine?

Tại những thành phố lớn như Kharkov, Odessa có tập trung nhiều trường đại học lớn và nổi tiếng, và tại đây cũng khá nhiều người Việt Nam sinh sống và làm việc, đa số người Việt tập trung với nhau thành những cộng đồng lớn, đây là cơ hội việc làm cho các du học sinh. Nhiều du học sinh ngay từ năm thứ hai đã có thể tìm được cho mình các công việc làm thêm như dạy tiếng việt cho trẻ em Việt Nam, bán hàng, phục vụ quán ăn, nhà hàng hoặc các hình thức kinh doanh khác với mức lương từ 300$/ tháng. Thực tế đã chứng minh tại các thành phố này luôn có cơ hội kinh doanh hoặc làm giàu cho nhũng người năng động.

5. Ukraine nằm ở đâu?

Ukraine là quốc gia lớn thứ hai Châu Âu sau Pháp và nằm ở đông nam của Châu Âu

6.Thủ đô và dân số của Ukraine?
Kiev là thủ đô của Ukraina, dân số 45 triệu người (số liệu năm 2016).

du học ukraine và những câu hỏi tường gặp

Du học Ukraine và những câu hỏi thường gặp

7. Tôn giáo chính của người dân ở Ukraine là gì?
Kitô giáo.

8.Các trường đại học ở Ukraine?
Liên hệ Minh Hoàng An để biết chi tiết các trường đại học.

9. Tôi có thể nhận được học bổng trong các trường đại học của Ukraine?
Ukraine “KHÔNG CẤP HỌC BỔNG” dành cho sinh viên nước ngoài. Bạn phải xác minh tính xác thực của con người, website, các công ty cung cấp HỌC BỔNG tại Ukraine.

10.Thời gian chương trình học tại Ukraine?
Thời gian thay đổi từ 2 – 6 năm tùy thuộc vào các khóa học của nghiên cứu, thông thường 4 năm cho hệ cử nhân, 2 năm thạc sỹ, 3 năm tiến sỹ và 6 năm tiến sỹ khoa học.

11.Các loại tiền tệ được sử dụng ở Ukraine là gì?
Các loại tiền tệ được sử dụng ở Ukraine là đồng grivna và các đồng tiền xu là Kopek. 1USD = 8 grivna (Xin vui lòng kiểm tra giá thị trường ngoại hối hiện tại để có cập nhật mới nhất), 1grivna = 100 kopek

12.Ngôn ngữ được sử dụng ở Ukraine là gì?
Tiếng Ukraine, Nga, Rumani, Ba Lan và Hungary.

13.Ngôn ngữ được giảng dạy tại Ukraine?
Tiếng Ukraine, tiếng Nga và tiếng Anh.

14. Chúng ta có phải qua kỳ kiểm tra tiếng Anh hay phải có các chứng chỉ tiếng Anh như IELTS hoặc TOEFL để nhập học vào trường Đại học Ukraine?
Không, điều đó không bắt buộc, nhưng cũng có những chương trình hỗ trợ ngoại ngữ cho những người chưa giỏi tiếng Anh.

Du học Ukraine và những câu hỏi thường gặp

Du học Ukraine và những câu hỏi thường gặp

15.Chúng tôi có đươc làm việc tại Ukraine sau khi hoàn thành chương trình học?
Có, bạn có thể nộp đơn xin phép làm việc. Các trường Đại học sẽ giới thiệu việc làm tại Ukraine và các nước phương Tây khác.

16. Học sinh có phải trở lại làm việc tại đất nước của mình sau khi kết thúc khóa học?
Không, điều đó không bắt buộc.

17. Chúng ta có thể định cư và nhập quốc tịch của Ukraine?
Có, bạn có thể sau 2 năm thường xuyên sống tại Ukraine theo Luật Ukraine.

18. Bằng đại học Ukraine có giá trị trên toàn cầu?
Bằng đại học tại Ukraine có giá trị và được công nhận trên toàn cầu.

19. Sinh viên nước ngoài có được sắp xếp chỗ ở và chi phí?
100% sinh viên nước ngoài sẽ được ở trong ký túc xá nếu có yêu cầu. Thông thường chi phí ký túc xá là 350$ – 500$/ 1 năm đã bao gồm gas, điện, nước và các dịch vụ.

20. Chúng tôi có thể trả tiền học phí theo đợt?
Bắt đầu từ năm thứ 2 bạn có thể trả tiền học phí 2 đợt 1 năm.

21. Sinh viên có phải trả tiền sách và lệ phí thi riêng biệt hay là nó bao gồm trong lệ phí?
Nó được bao gồm trong học phí.

Du học Ukraine và những câu hỏi thường gặp

Du học Ukraine và những câu hỏi thường gặp

22. Chúng ta có thể đi du lịch đến bất kỳ nước nào khác trong khi học ở Ukraina?
Có, bạn có thể đi du lịch sang các nước khác như Anh, Đức, Thụy Điển, Ý, Pháp, Ba Lan, vv trong các kỳ nghỉ mùa hè và mùa đông.

23. Những dịch vụ khác http://duhocukraina.com cung cấp cho sinh viên nước ngoài?
http://duhocukraina.com  cung cấp miễn phí cho sinh viên quốc tế tất cả các thông tin về hệ thống giáo dục Ukraina và hỗ trợ sinh viên cho đến khi kết thúc khóa học từ 2-6 năm.

Cung cấp thông tin về các cơ sở giáo dục khác nhau của Ukraina.

Nộp các tài liệu của sinh viên vào các trường Đại học và các khoa đã chọn.

Làm thư mời nhập học và xin visa.

Đưa, đón sinh viên tại các sân bay quốc tế và đưa đến trường Đại học, ký túc xá.

Hỗ trợ về chỗ ở ký túc xá.

Hỗ trợ với việc đăng ký, và các tài liệu tại trường Đại học.

Hỗ trợ trong việc mở tài khoản ngân hàng.

Tư vấn và giúp đỡ những khó khăn trong quá trình học tập tại trường Đại học.

Chuyển trường cho sinh viên nếu có nhu cầu

Cung cấp dịch vụ hỗ trợ và giám hộ trong thời gian giáo dục. Liên lạc với cha mẹ và thông báo kết quả học tập trong thời gian giáo dục.

24. Bao nhiêu hành lý được phép đưa lên máy bay?
Các hãng hàng không cho phép 20-25 kg hành lý được thực hiện miễn phí. Tất cả các hành lý vượt quá số đó được thanh toán trên Kg và tương đối đắt tiền. Bạn chỉ cần mang theo những thứ không có sẵn ở Ukraine. Thực ra bạn chỉ cần mang theo một ít quần áo ấm, giầy, mũ, găng tay vv khăn, và một số thiết bị vệ sinh cá nhân cho giai đoạn đầu. còn mọi thứ khác đều có thể mua dễ dàng tại Ukraine.

25.Tôi sẽ phải chuẩn bị những chi phí gì khi đến Ukraine?
Bạn phải chuẩn bị học phí 1 năm, tiền ký túc xá, tiền bảo hiểm như thông báo, và thêm tiền chi tiêu cho những tháng đầu.

26. Chi phí sinh hoạt hàng tháng của tôi?
Thông thường các chi phí cho tháng đầu tiên ở Ukraine là nhiều hơn so với những tháng tiếp theo. Bạn sẽ cần khoảng 200 USD trong tháng đầu tiên ở Ukraine, trong tháng này sinh viên sẽ phải trả những chi phí đăng ký, các vật dụng cá nhân cần thiết. Sau đó, chi phí sinh hoạt hàng tháng khoảng 100$ đến 150$.

27. Làm thế nào để cha mẹ tôi có thể gửi cho tôi tiền cho các chi phí của tôi?
Cha mẹ có thể gửi tiền vào tài khoản ngân hàng của học sinh ở Ukraine bằng cách chuyển khoản. Học sinh được khuyến khích để mở một tài khoản ngân hàng ngay sau khi hoàn tất quá trình nhập học. thông thường mất khoảng 10-15 ngày để mở một tài khoản ngân hàng, học sinh sẽ được yêu cầu phải đặt cọc một khoản tiền gửi ban đầu là 5 USD.

28. Các kỳ nghỉ trong các trường đại học ở Ukraine?
Tại khoa dự bị, chương trình học không được chia thành các học kỳ, do đó không có kỳ nghỉ đông. Vào cuối tháng giêng, sau các bài kiểm tra sinh viên có 1 tuần nghỉ ngơi. Những sinh viên không vượt qua được thì phải cố gắng học để vượt qua các bài kiểm tra của họ một lần nữa. Mùa hè sinh viên được nghỉ 2 tháng, từ ngày 1 tháng 7 đến 31 tháng 8 năm. Tại các khóa học cử nhân, kỳ nghỉ đông kéo dài 2 tuần từ tuần cuối cùng của tháng Giêng cho đến tuần đầu tiên của tháng hai hàng năm.Kỳ nghỉ hè cũng tương tự như ở các khóa học dự bị từ 1 tháng 7 đến 31 tháng 8 hàng năm.

du học ukraine

TUYỂN SINH DU HỌC NGÀNH Y TẠI UKRAINE KỲ NHẬP HỌC THÁNG 10/2018 ƯU ĐÃI 05 SUẤT PHÍ VISA

MINH HOÀNG AN thông báo tuyển sinh du học ngành y tại Ukraine:

Hệ đào tạo: TIẾNG ANH hoặc TIẾNG NGA

Ưu đãi đặc biệt: 05 suất phí Visa trị giá 2.000.000 đồng dành tặng cho học sinh đăng ký trước ngày 10/07/2018.

Hạn chót nộp hồ sơ: 30/07/2018

Ukraine là một trong địa điểm học y phổ biến nhất thế giới cho sinh viên quốc tế. Các trường đại học y Ukraine cực kỳ nổi tiếng trong giới sinh viên các nước Châu Á, Châu Phi và Trung Đông từ nhiều năm. Sinh viên y khoa tại Ukraine đến từ nhiều nước trên khắp thế giới.

du học ngành y

du học ngành y tại ukraine

Vì sao nên học ngành y tại Ukraina?

–   Hệ thống giáo dục y khoa lâu đời, bằng cấp có giá trị với chi phí thấp và chính sách visa khá thoáng. Trong khi sinh viên tốn tới 160.000 – 200.000 USD để học y tại Mỹ, họ chỉ cần 20.000 – 30.000 để hoàn thành chương trình này tại Ukraine. Điều này không có nghĩa là chất lượng giáo dục tại Ukraine thấp.

–   Hầu hết các trường đại học Y tại Ukraine đều được quốc tế công nhận với chất lượng giáo dục tốt. Bằng cấp các trường này được công nhận bởi Tổ Chức Y Tế Thế Giới, Hội Đồng Y Khoa Ấn Độ, Hội Đồng Y Khoa Nepal, Hội Đồng Y Khoa – Nha Khoa Pakistan (PMDC), Hiệp Hội Các Trường ĐH Châu Âu, Ủy Ban Giáo Dục dành cho Sinh Viên tốt Nghiệp Y Khoa Nước Ngoài (Education Commission for Foreign Medical Graduates – ECFMG) và Hội Đồng Y Khoa Canada (MCC – Medical Council of Canada) … và nhiều quốc gia khác.

–  Hầu hết chương trình Y đa khoa có hệ tiếng Anh cho sinh viên quốc tế. Các trường thường không yêu cầu chứng chỉ tiếng Anh mà chỉ yêu cầu trình độ tiếng Anh thực tế. Ngoài ra, sinh viên có thể chọn ngôn ngữ giảng dạy là tiếng Nga.

–   Sinh viên có thể đăng ký học tiếng Nga trước khi vào chương trình chính nếu cảm thấy lo lắng về việc hòa nhập với môi trường học tập và sinh hoạt tại nước này.

–  Sinh viên nước ngoài tốt nghiệp tại đây đủ điều kiện để dự thi Kỳ Thi Chứng Chỉ Hành Nghề Y Khoa Tại Mỹ USMLE (United States Medical Licensing Examination) (xem thêm về USMLE tại http://www.usmle.org/ ) và nhận giấy chứng nhận ECFMG. Một khi giấy chứng nhận ECFMG được cấp, sinh viên tốt nghiệp có đủ điều kiện tham gia thực tập nội trú hay học chuyên khoa tại Hoa Kỳ.

–   Hầu hết các trường đại học y tại Ukraine có quan hệ với các viện khoa học Liên Xô cũ và các viện y khoa trên khắp thế giới, ví dụ như Viện Y Ba Lan, Trường ĐH Cambridge, Trường ĐH Virden, các bệnh viện tại Đức, Bỉ, Úc, Israel,…

–  Sinh viên đủ điều kiện tham dự kỳ thi Hội Đồng Đánh Giá Chuyên Môn và Ngôn Ngữ tại Anh (Professional and Linguistic Assessments Board – PLAB) (xem thêm về PLAB tại http://www.gmc-uk.org/doctors/plab.asp  )

du học ngành y

du học ngành y tại ukraine năm 2018

Chương trình đào tạo và học phí:

Chương trình Thời gian đào tạo Học phí/ Năm (USD)
Y Đa Khoa (tiếng Anh) 06 năm 3.850 – 5.000
Y Đa Khoa (tiếng Nga) 06 năm 3.000 – 4.500
Nha Khoa (tiếng Nga) 05 năm 3.800 – 5.000
Nha Khoa (tiếng Anh) 05 năm 4.500 – 5.500
Dược (Tiếng Nga) 05 năm 3.000 – 4.500
Dược (Tiếng Anh) 05 năm 3.800 – 4.800
Dự bị 01 năm 1.800 – 3.000

(*) Học phí tham khảo năm 2018.

Chi phí khác:

Bảo hiểm y tế: 100 – 200 USD/năm

Tiền Ký túc xá : 600 – 1.500 USD/năm

Tiền ăn: 2.000 – 3.000 USD/năm

Hạn chót nhận hồ sơ: Cuối tháng 6

Kỳ nhập học: Tháng 09 hàng năm

Yêu cầu hồ sơ:

  • Giấy khám sức khoẻ (theo hướng dẫn của MHA)
  • Hộ chiếu gốc còn hạn
  • 6 ảnh 4×6 & 6 ảnh 3.5×4.5 (nền trắng, khổ quốc tế, chụp không quá 03 tháng)
  • Bằng ĐH/ Bằng THPT/Giấy chứng nhận tốt nghiệp tạm thời
  • Học bạ/ Bảng điểm
  • Giấy Khai Sinh
  • Sổ tiết kiệm (theo hướng dẫn của MHA)
  • Tờ khai thông tin học sinh (theo hướng dẫn của MHA)

CHI PHÍ VÀ THỦ TỤC HỒ SƠ DU HỌC UKRAINA

CHI PHÍ CHUNG

  • Học phí dự bị tiếng Nga : 1,400 usd – 1,800 usd / năm
  • Học chuyên ngành : 1,700 – 2,500 usd/năm  ( Ngành Y khoảng 4000 – 4,800 usd/năm )
  • Ký túc xá : 350 -1000 usd/ năm
  • Bảo hiểm : 200  usd/năm
  • Chi phí ăn, đi lại… : 2,500usd/năm – 3,600 usd/năm

GIẤY TỜ CẦN CHUẨN BỊ

  • Hộ chiếu bản gốc (có giá trị ít nhất trong một năm)
  • Bằng tốt nghiệp PTTH
  • Bằng cử nhân (Đối với sinh viên cấp độ thạc sĩ)
  • Bằng thạc sỹ (Đối với học sinh Cấp tiến sĩ)
  • Học bạ & Bảng điểm
  • Giấy khai sinh
  • Giấy khám sức khoẻ chứng nhận không mắc bệnh truyền nhiễm (trong vòng 1 năm)
  • Giấy chứng nhận không nhiễm HIV và bệnh lao (trong vòng 1 tháng), Chụp phổi (kèm phim)
  • Xác nhận không tiền án tiền sự (được cấp bởi “SỞ TƯ PHÁP” Tỉnh/ Thành Phố nơi bạn đang sinh sống (thời gian cấp xác nhận không tiền án tiền sự trong khoảng 1 tháng).
  • 8 ảnh hộ chiếu kích thước (4*6)
  • Lý lịch tự thuật
  • Sổ tiết kiệm : Từ 5000 usd trở lên

DU HỌC NGÀNH Y TẠI NGA VÀ UKRAINA

Bằng cấp tại đây được công nhận trên toàn thế giới, chi phí du học phải chăng, giúp các bạn sinh viên dễ dàng thực hiện ước mơ của mình.

Từ lâu, Nga và Ukraina đã nổi tiếng trong lĩnh vực đào tạo các ngành y, đặc biệt là với Việt Nam – quốc gia có nhiều bác sĩ được cử sang tu nghiệp. Hệ thống giáo dục đại học trong lĩnh vực y khoa tại Nga và Ukraina có lịch sử phát triển lâu đời. Nơi đây có chất lượng giáo dục chuẩn châu Âu và nhiều trường đại học hàng trăm tuổi thuộc hàng top các đại học tốt nhất trên thế giới, chi phí học tập và sinh hoạt cũng thuộc hàng thấp trên thế giới.

hoc-nganh-bac-si-tai-nga-va-ukraina

Các trường đại học lớn tại Nga và Ukraina sở hữu bệnh viện và phòng khám riêng.

Hệ thống giáo dục tại đây không ngừng được nâng cao, bằng cấp các trường đại học được công nhận trên thế giới. Nga và Ukraina sẽ là điểm đến du học không thể bỏ qua cho các bạn sinh viên có mong muốn theo đuổi những ngành học trong lĩnh vực y tế. Các trường đại học lớn sở hữu những bệnh viện và phòng khám riêng bảo đảm cho sinh viên được quan sát thực tế đi đôi với giảng dạy lý thuyết cũng như tạo môi trường thuận lợi cho sinh viên thực hành lâm sàng.

Thủ tục du học Nga và Ukraina đơn giản, thuận tiện, nhanh chóng, không cần chứng minh tài chính hoặc bảo lãnh, visa 100%. Chương trình học bằng tiếng Anh hoặc tiếng Nga. Sau khi tốt nghiệp khóa dự bị, sinh viên được nhận thẳng vào đại học, không cần phải qua thi tuyển.

Các ngành tuyển sinh gồm y đa khoa (6 năm), nha khoa (5 năm), dược (5 năm), công nghệ sinh học (4 năm), kỹ thuật sinh học và tin sinh học (5 năm), thú y (5 năm), tâm lý học lâm sàng (5,5 năm).

Các trường đại học tại Nga xem tại đây; tại Ukraina xem tại đây.

hoc-nganh-bac-si-tai-nga-va-ukraina-1

Nga và Ukraina sẽ là điểm đến du học không thể bỏ qua cho các bạn sinh viên có mong muốn theo đuổi những ngành học trong lĩnh vực y tế.

Kỳ nhập học: tháng 9 và tháng 10 hàng năm (khóa dự bị có kỳ tháng 2)

Chi phí học tập (một năm):

Học phí hệ đại học – thạc sĩ:

– Chương trình bằng tiếng Anh: 4.000 – 4.800 USD.
– Chương trình bằng tiếng Nga: 3.500 – 4.500 USD.

Một số trường y ở các thành phố lớn như Moscow, Saint-Petersburg… học phí 5.500 – 8.500 USD một năm.

– Học phí dự bị tiếng Nga: 1.800 – 3.000 USD.
– Ký túc xá: 500 – 1.500 USD.
– Tiền ăn: 2.000 – 2.500 USD.
– Bảo hiểm: 120 – 150 USD.

Yêu cầu đầu vào: tốt nghiệp trung học phổ thông trở lên, sức khỏe tốt, không có tiền án tiền sự. Đối với chương trình học bằng tiếng Anh, yêu cầu trình độ tiếng Anh tương đương IELTS 5.5. Đối với chương trình học bằng tiếng Nga, trường có khóa dự bị tiếng Nga (thời gian đào tạo một năm đến 1,5 năm).

Học Y tại Ukraina – Chất lượng cao, chi phí rẻ

Học Y tại Ukraina – chất lượng cao, chi phí rẻ

 

Hệ thống giáo dục đại học trong lĩnh vực Y khoa ở Ukraina có lịch sử phát triển lâu đời và giàu truyền thống. Chi phí học tập tại Ukraina thuộc dạng rẻ nhất thế giới, đến nay hệ thống giáo dục Ukraina không ngừng được nâng cao, bằng cấp các trường đại học của Ukraina được công nhận trên toàn thế giới.

Thủ tục du học Ukraina cũng rất đơn giản, thuận tiện, nhanh chóng hơn các nước khác rất nhiều, không thi tuyển, không cần chứng minh tài chính hoặc bảo lãnh. Chương trình học bằng tiếng Anh hoặc tiếng Nga. Sau khi tốt nghiệp khóa dự bị học sinh được nhận thẳng vào Đại học không cần phải qua thi tuyển. 

 

Các ngành nổi trội:

– Bác sỹ Đa Khoa (thời gian đào tạo 06 năm)

– Bác sỹ Răng – Hàm – Mặt (thời gian đào tạo 06 năm)

– Nha Khoa Phẫu Thuật  (thời gian đào tạo 05 năm)

– Dược (thời gian đào tạo 05 năm)

 

Học phí – chi phí tham khảo:

–  Dự bị tiếng Nga: 1800 – 2500 USD

–  Ngành Y: 4000 – 4800 USD/năm (hệ tiếng Anh), 3000 – 4000 USD/ năm (hệ tiếng Nga)     

–  Ký túc xá: 500 – 1000 USD/năm

–  Tiền ăn: 2000 – 2500 USD/năm

–  Bảo hiểm: 100 – 200 USD

 

Yêu cầu đầu vào:

– Học sinh đã tốt nghiệp THPT, sinh viên đã tốt nghiệp Đại học, Cao học chuyên ngành kinh tế tại các trường đại học Việt Nam và Quốc Tế.

– Sức khỏe tốt, không có tiền án tiền sự

– Đối chương trình bằng tiếng Anh: yêu cầu trình độ tiếng Anh tương đương IELTS 5.5 (không cần chứng chỉ)

– Đối với chương trình học bằng tiếng Nga: trường có khóa dự bị tiếng Nga (thời gian đào tạo 01 năm, sau đó sinh viên có thể đăng ký học tất cả các khoa, chuyên ngành khác của nhà trường)

 

Hồ sơ đăng ký:

– Học bạ, bằng THPT (hoặc giấy chứng nhận tốt nghiệp)

– Giấy khai sinh

– Hộ chiếu + hình 4×6 và 3×4 (nền trắng)

– Giấy khám sức khỏe (theo mẫu)

 

Kỳ nhập học: Tháng 9/2015 & Tháng 10/2015

 

Một số trường đại học Y tuyển sinh ở Ukraina:

Đại học Y khoa Quốc Gia Kharkiv (KNMU): là đơn vị giáo dục y khoa lâu đời nhất tại Ukraina. Được thành lập năm 1805, KNMU là học viện giáo dục y khoa đào tạo sau trung học đầu tiên tại Ukraina và cũng là học viện tốt nhất dành cho sinh viên nước ngoài muốn học y tại Ukraina. Bằng cấp danh giá của KNMU được đánh giá cao và công nhận tại rất nhiều quốc gia trên khắp thế giới. Sinh viên tốt nghiệp KNMU hiện nay là thành viên quốc hội hay bộ trưởng của nhiều quốc gia, là các nhà khoa học nổi trội hay những ngưới tự thành lập bệnh viện, phòng khám của riêng mình.

Đại học Y khoa Quốc Gia Odessa: được thành lập ngày 01/09/1900 tại thành phố Odessa. Đại học y quốc gia Odessa là trường đầu tiên của Ukraina có giáo dục về y khoa bằng tiếng Anh từ năm 1996 đến nay. Trường có môi  trường giảng dạy y khoa chất lượng cao được thế giới công nhận. Trường luôn mời các chuyên gia có kinh nghiệm bậc nhất về y học về giảng dạy.

Đại Học Y Khoa Lviv (LNMU): là một trong những học viện y lớn nhất và lâu đời nhất ở Ukraine. Trường hoạt động từ năm 1784. LNMU là thành viên của Hiệp Hội Các Trường ĐH Châu Âu và Quốc Tế và cũng là thành viên của gần 70 liên đoàn, học viện và tổ chức quốc tế khác. Trường năm trong ban giám đốc của tồ chức Y Tế Thế Giới (WHO) và trong ban giám đốc các trường ĐH Trung Âu.

Đại Học Quốc Gia V.N. Karazin Kharkiv: được thành lập năm 1804, là một trong những trường ĐH lâu đời nhất Đông Âu. Trường là một trong những trung tâm nghiên cứu lớn nhất ở Ukraine bao gồm 3 Viện nghiên cứu (Thiên văn học, Sinh học và Hóa học)

 

________________________________________________

Địa điểm nhận hồ sơ:

Trung Tâm Tư Vấn Giáo Dục Quốc Tế Minh Hoàng An

Thành phố Hồ Chí Minh: 500 Lạc Long Quân, Phường 5, Quận 11, TP.HCM

Văn phòng tại TP. Hải Dương: 223 Nguyễn Bỉnh Khiêm, Đông Nam Cường, TP. Hải Dương

Website: www.minhhoangan.edu.vn

 

Liên hệ để được tư vấn:

Email: duhoc@minhhoangan.edu.vn

Tel: (08) 3975 6200 | 0905 605 601

 

Dưới đây là hình ảnh một số học sinh của Minh Hoàng An đã và đang học tập tại Ukraina:

 

Bạn Nguyễn Lê Hoàng Minh –Một học sinh của Minh Hoàng An đang học ngành bác sĩ đa khoa tại Đại học y khoa quốc gia Kharkiv – Tp Kharkov

 

Các bạn du học sinh của Minh Hoàng An đang học tập tại Trường đại học Y khoa quốc gia Kharkiv

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Giới thiệu đất nước Ukraina

Ukraina (tiếng Ukraina: Україна) là một quốc gia thuộc khu vực Đông Âu.

 Ukraina giáp với Liên bang Nga về phía đông, giáp với Belarus (Bạch Nga) về phía bắc, giáp với Ba Lan, Slovakia và Hungary về phía tây, giáp với Romania và Moldova về phía tây nam và giáp với Biển Đen và Biển Azov về phía nam. Thành phố Kiev là thủ đô của Ukraina.

Lịch sử của Ukraina cũng như lịch sử Nga bắt đầu từ khoảng thế kỉ 9 sau công nguyên khi vùng đất này trở thành trung tâm của nền văn minh Đông Slav với quốc gia Nga Kiép (Kievan Rus) hùng mạnh tồn tại đến thế kỉ 12.

 Khi đế quốc Mông Cổ của Thành Cát Tư Hãn trỗi dậy và bành trướng, Nga Kiép bị Mông Cổ đánh tan tác chịu cảnh nô lệ suốt nhiều thế kỷ. Sau khi Mông cổ suy yếu, lãnh thổ của Ukraina lại bị phân chia giữa nhiều thế lực khác nhau tại châu Âu, cụ thể là Ba Lan, Thổ Nhĩ Kỳ và Nga. Đến thế kỉ 19, khi Nga bành trướng và đánh bại hai địch thủ còn lại, hầu hết lãnh thổ của Ukraina đã nằm trong Đế chế Nga.

 Năm 1922, Ukraina trở thành một nước đồng sáng lập Liên bang Xô viết và trở thành một nước cộng hòa theo thể chế xã hội chủ nghĩa nằm trong Liên Xô. Năm 1991, Liên Xô sụp đổ và Ukraina lại trở thành một quốc gia độc lập. Từ đó đến nay, Ukraina đã tiến hành mở cửa và xây dựng nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên kinh tế Ukraina vẫn gặp nhiều thách thức to lớn và đây vẫn là một trong những quốc gia có thu nhập bình quân thấp nhất châu Âu.

Ukraina là một quốc gia thống nhất gồm 24 tỉnh, một nước cộng hòa tự trị Crimea và hai thành phố đặc biệt không thuộc trung ương Kiev và Sevastopol. Đây là một nước theo thể chế cộng hòa bán tổng thống.

Lịch sử

Buổi đầu lịch sử

Khu định cư của con người trong lãnh thổ Ukraina ít nhất có từ năm 4500 trước Công Nguyên, khi nền văn hoá Cucuteni thời kỳ Đồ đá mới phát triển tại một khu vực lớn bao phủ nhiều vùng của Ukraina hiện đại gồm Trypillia và toàn bộ vùng Dnieper-Dniester. Trong thời kỳ đồ sắt, vùng đất này được cư trú bởi người Cimmeria, Scythia, và Sarmatia.[2]

Từ năm 700 trước Công Nguyên tới 200 trước Công Nguyên nó là một phần của Vương quốc Scythian, hay Scythia. Sau này, các thuộc địa của Hy Lạp cổ đại, La Mã cổ đại, và Đế chế Đông La Mã, như Tyras, Olbia, và Hermonassa, đã được thành lập, bắt đầu ở thế kỷ thứ 6 trước Công Nguyên, trên bờ phía đông bắc Biển Đen, và trở nên thịnh vượng trong thế kỷ thứ 6th sau Công Nguyên. Người Goths sống trong vùng nhưng nằm dưới sự thống trị của người Hung từ những năm 370 sau Công Nguyên.

Ở thế kỷ thứ 7, lãnh thổ đông Ukraina là trung tâm của Đại Bulgaria Cổ. Cuối thế kỷ đó, đa số các bộ tộc Bulgar di cư theo nhiều hướng và vùng đất lại rơi vào tay người Khazar.

Thời kỳ huy hoàng của Kiev

Trong thế kỷ thứ 9, đa phần Ukraina hiện nay là nơi sinh sống của người Rus', họ lập ra Kievan Rus'. Kievan Rus' bao gồm hầu như toàn bộ lãnh thổ Ukraina, Belarus hiện đại với một phần lớn lãnh thổ của nó nằm trong lãnh thổ nước Nga hiện nay. Trong thế kỷ thứ 10 và 11, nó trở thành nước lớn nhất và mạnh nhất ở Châu Âu.[3] Trong những thế kỷ tiếp sau, nó đặt nền móng cho tính đồng nhất quốc gia của người Ukraina và người Nga.[4] Kiev, thủ đô của Ukraina hiện đại, đã trở thành thành phố quan trọng nhất của Rus'.

Theo Biên niên sử Đầu tiên, giới thượng lưu Rus' ban đầu gồm những người Varangian từ Scandinavia. Người Varangian sau này bị đồng hoá vào xã hội cư dân Slavơ địa phương và trở thành một phần của triều đại Rus' đầu tiên, Triều đại Rurik.[4] Kievan Rus' gồm nhiều công quốc do các Hoàng tử Rurikid có quan hệ huyết thống với nhau cai trị. Khu vực Kiev, công quốc thịnh vượng và có ảnh hưởng nhất, trở thành mục tiêu tranh giành giữa các Rurikid và là đích tối thượng cho cuộc tranh giành quyền lực của họ.

Thời kỳ huy hoảng của Kievan Rus' bắt đầu với sự cai trị của Vladimir Vĩ đại (980–1015), ông đã đưa Rus' theo Thiên chúa giáo Byzantine. Trong thời cầm quyền của con trai ông, Yaroslav Thông thái (1019–1054), Kievan Rus' đạt tới cực điểm phát triển văn hoá và quyền lực quân sự.[4] Tiếp sau đó là sự tan rã ngày càng nhanh của quốc gia khi các cường quốc trong vùng lại xuất hiện.

Sau một cuộc nổi dậy cuối cùng dưới thời cai trị của Vladimir Monomakh (1113–1125) và con trai ông Mstislav (1125–1132), Kievan Rus' cuối cùng tan rã thành nhiên công quốc sau cái chết của Mstislav.

Trong thế kỷ 11 và 12, những cuộc xâm lược thường xuyên của các bộ tộc Turkic du mục như Pechenegs và Kipchaks, gây ra những cuộc di cư lớn của dân cư Slavơ tới những vùng an toàn và có nhiều rừng cây hơn ở phía bắc.[5] Thế kỷ 13, cuộc xâm lược của Mông Cổ đã tàn phá Kievan Rus'. Kiev bị phá huỷ hoàn toàn năm 1240.[6] Trên lãnh thổ Ukraina, nhà nước Kievan Rus' được kế tục bởi các công quốc Galich (Halych) và Volodymyr-Volynskyi, chúng sáp nhập thành nhà nước Galicia-Volhynia.

Cai trị nước ngoài

Giữa thế kỷ 14, Galicia-Volhynia bị Casimir Đại đế của Ba Lan chinh phục, tuy vùng đất trung tâm của Rus', gồm cả Kiev, rơi vào tay Gediminas của Lãnh địa Đại công tước Lithuania sau Trận đánh trên Sông Irpen'.

Sau năm 1386 Liên minh Krevo, một liên minh các triều đại giữa Ba Lan và Lithuania, hầu hết lãnh thổ Ukraina bị giới quý tộc Lithuania địa phương ngày càng Ruthenia hoá cai trị như một phần của Lãnh địa Đại công tước Lithuania. Ở thời điểm này, thuật ngữ Ruthenia và người Ruthenia như các phiên bản La tinh hoá của "Rus'", bắt đầu được áp dụng rộng rãi cho vùng đất và con người Ukraina.[7]

Tới năm 1569, Liên minh Lublin thành lập Khối thịnh vượng chung Ba Lan-Lithuania, và một phần lớn lãnh thổ Ukraina được chuyển từ quyền cai trị chủ yếu Lithuania sang cho bộ máy hành chính Ba Lan, như nó đã được chuyển giao cho Vua Ba Lan. Dưới áp lực văn hoá và chính trị của quá trình Ba Lan hoá đa phần thượng Ruthenia chuyển theo Cơ đốc giáo và trở nên không thể phân biệt với giới quý tộc Ba Lan.[8]

Vì thế, những người thường dân Ukraina, mất đi những người bảo hộ địa phương của mình trong giới quý tộc Ruthenia, quay sang tìm kiếm sự bảo hộ của người Cossack, họ luôn kiên quyết trung thành với chính thống giáo và có khuynh hướng quay sang dùng bạo lực chống lại những kẻ mà họ cho là kẻ thù, đặc biệt là nhà nước Ba Lan và những đại diện của nó.[9]

Giữa thế kỷ 17, một quân đội kiểu nhà nước của người Cossack, Đạo quân Zaporozhe được thành lập bởi những người Dnieper Cossack và các nông dân Ruthenia chạy trốn chế độ nông nô Ba Lan.[10]

 Ba Lan ít có quyền kiểm soát thực tế với vùng đất này, quả thực họ thấy rằng người Cossack là một lực lượng chiến đấu hữu hiệu chống lại người Thổ và người Tatar,[11] ở những thời điểm hai lực lượng liên kết trong các chiến dịch quân sự.[12]

Tuy nhiên, quá trình tiếp tục nông nô hoá các nông dân của giới quý tộc Ba Lan được tăng cường thêm bởi tham muốn mãnh liệt khai thác nguồn nhân lực, và quan trọng nhất, là sự đàn áp Nhà thờ Chính thống được thúc đẩy bởi tham muốn của người Cossack rời bỏ Ba Lan.[11]

 Mong muốn của họ là có đại diện trong Sejm, công nhận các truyền thống Chính thống và sự mở rộng dần dần của Cossack Registry. Tất cả chúng đều bị giới quý tộc Ba Lan kịch liệt phản đối. Cuối cùng người Cossack quay sang tìm kiếm sự bảo hộ của Chính thống giáo Nga, một quyết định sau này sẽ dẫn tới sự sụp đổ của nhà nước Ba Lan-Lithuania,[10] và sự bảo tồn Nhà thờ Chính thống và tại Ukraina.[13]

Năm 1648, Bohdan Khmelnytsky lãnh đạo những cuộc nổi dậy lớn nhất của người Cossack chống lại Khối thịnh vượng chung và vua Ba Lan John II Casimir.[14]

Bờ tả Ukraina cuối cùng sáp nhập vào Nga như Cossack Hetmanate, sau Hiệp ước Pereyaslav năm 1654 và cuộc Chiến tranh Nga Ba Lan sau đó. Sau cuộc phân chia Ba Lan ở cuối thế kỷ 18 bởi Phổ, nhà Habsburg của Áo, và Nga, Tây Ukraina Galicia bị Áo chiếm, trong khi phần còn lại của Ukraina dần bị sáp nhập vào Đế chế Nga. Từ đầu thế kỷ 16 tới cuối thế kỷ 17 các nhóm cướp phá của người Tatar Crimea hầu như đột nhập hàng năm vào các vùng đất nông nghiệp Slavơ bắt người để bán làm nô lệ.[15]

 Sau sự sáp nhập Khả hãn quốc Crimea năm 1783, vùng này là nơi định cư của những người du cư từ các vùng khác của Ukraina.[16] Dù có những lời hứa trao cho Ukraina quyền tự trị trong Hiệp ước Pereyaslav, giới lãnh đạo Ukraina và người Cossack không bao giờ có tự do và tự trị mà họ chờ đợi từ Đế quốc Nga.

Tuy nhiên, bên trong Đế chế, người Ukraina lên được những chức vụ cao nhất của nhà nước Nga, và Nhà thờ Chính thống Nga.[a] Ở giai đoạn sau này, chế độ sa hoàng tiến hành chính sách Nga hoá các vùng đất Ukraina, cấm sử dụng ngôn ngữ Ukraina trong xuất bản và công cộng.

Cách mạng và Chiến tranh thế giới thứ nhất

Ukraina bước vào Chiến tranh thế giới thứ nhất bên cạnh cả phe Liên minh, với đế quốc Áo-Hung, và phe Hiệp ước, với Nga. 3.5 triệu người Ukraina chiến đấu trong Quân đội Đế quốc Nga, trong khi 250,000 người chiến đấu cho Quân đội Áo-Hung.[18] Trong cuộc chiến, chính quyền Áo-Hung thành lập Quân đoàn Ukraina để chiến đấu chống lại Đế chế Nga.

 Quân đoàn này là nền tảng của Quân đội Galician Ukraina chiến đấu chống lại cả những người Bolshevik và Ba Lan trong giai đoạn hậu Thế chiến I (1919–23). Những người bị nghi ngờ có các tình cảm thân Nga tại Áo bị đối xử tàn nhẫn. Lên tới 5,000 người ủng hộ Đế chế Nga thuộc Galicia bị giam giữ và đưa vào các trại tập trung Áo tại Talerhof, Styria, và trong các khu rừng tại Terezín (hiện ở Cộng hoà Séc).[

Với sự sụp đổ của Đế chế Nga và Áo-Hung sau chiến tranh và cuộc Cách mạng Nga năm 1917, một phong trào quốc gia Ukraina đòi quyền tự quyết tái xuất hiện. Trong giai đoạn 1917–20, nhiều nhà nước Ukraina riêng biệt xuất hiện trong một giai đoạn ngắn: Cộng hoà Nhân dân Ukraina, Hetmanate, Directorate và Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Xô viết Ukraina (hay Xô viết Ukraina) thân Bolshevik liên tiếp được thành lập trong các lãnh thổ cũ của Đế chế Nga; đồng thời Cộng hoà Nhân dân Tây Ukraina xuất hiện một thời gian ngắn trong lãnh thổ của Áo-Hung cũ.

Trong bối cảnh cuộc Nội chiến, một phong trào vô chính phủ được gọi là Hắc quân lãnh đạo bởi Nestor Makhno cũng phát triển ở miền Nam Ukraina.[20] Tuy nhiên với sự thất bại của Tây Ukraina trong Chiến tranh Ba Lan-Ukraina tiếp theo là sự thua trận của cuộc tấn công của Ba Lan bị những người Bolshevik đẩy lùi.

Theo Hiệp ước Hoà bình Riga được ký kết giữa người Xô viết và Ba Lan, tây Ukraina chính thức bị sáp nhập vào Ba Lan đổi lại Ba Lan công nhận nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Xô viết Ukraina vào tháng 3 năm 1919, sau này trở thành một thành viên sáng lập Liên bang Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Xô viết hay Liên xô tháng 12 năm 1922.

Ukraina Xô viết giữa hai cuộc chiến

Cuộc cách mạng đưa chính phủ Xô viết lên nắm quyền lực đã tàn phá Ukraina. Hậu quả của nó là 1.5 triệu người chết và hàng trăm ngàn người mất nhà cửa. Xô viết Ukraina phải đối mặt với nạn đói năm 1921.[22]

Chứng kiến một xã hội đang kiệt quệ, chính phủ Xô viết trở nên rất mềm dẻo trong thập kỷ 1920.[23] Vì thế, Văn hoá Ukraina và ngôn ngữ đã có sự phục hồi, bởi sự Ukraina hoá trở nên một phần địa phương của việc áp dụng chính sách Korenisation (nghĩa đen bản xứ hoá) trên khắp Liên xô.[21]

Người Bolshevik cũng cam kết thực hiện chăm sóc y tế phổ thông, cung cấp các lợi ích giáo dục và an sinh xã hội, cũng như quyền làm việc và có nhà ở.[24] Các quyền của phụ nữ được tăng cường mạnh thông qua các bộ luật mới có mục đích loại bỏ những sự bất bình đẳng từ nhiều thế kỷ.[25]

 Hầu hết cách chính sách đó đã bị đảo ngược hồi đầu thập niên 1930 sau khi Joseph Stalin dần củng cố quyền lực để trên thực tế trở thành người lãnh đạo đảng cộng sản và một nhà độc tài của Liên bang Xô viết.

Bắt đầu từ cuối thập niên 1920, Ukraina tham gia vào cuộc công nghiệp hoá Liên xô và sản phẩm công nghiệp của nước cộng hoà đã tăng gấp bốn lần trong thập niên 1930.[21]

 Tuy nhiên, cuộc công nghiệp hoá khiến tầng lớp nông dân phải trả giá đắt, về nhân khẩu họ là xương sống của quốc gia Ukraina. Để đáp ứng nhu cầu của quốc gia về nguồn lương thực ngày càng tăng, và để cung cấp tài chính cho cuộc công nghiệp hoá, Stalin tiến hành một chương trình tập thể hoá nông nghiệp khi nhà nước thu ruộng đất và gia súc của nông dân vào trong các trang trại tập thể và ép buộc thực hiện các chính sách bằng quân đội thường trực và cảnh sát mật.[21]

 Những người chống đối bị bắt giữ và trục xuất và hạn ngạch sản xuất gia tăng lại được đặt lên vai người nông dân. Sự tập thể hoá đã gây tác động tàn phá với sản xuất nông nghiệp. Bởi các thành viên của các nông trang tập thể không được phép nhận bất kỳ hoa lợi nào cho tới khi đạt mức hạn ngạch nộp thuế, sự thiếu ăn lan tràn khắp Liên bang Xô viết.

Trong năm 1932–33, hàng triệu người chết đói trong một nạn đói do con người tạo ra được gọi là Holodomor.[c] Các học giả đang tranh cãi liệu nạn đói này có thích hợp với định nghĩa diệt chủng, nhưng nghị viện Ukraina và hơn một chục quốc gia khác công nhận nó là như vậy.[c]

Những thời gian công nghiệp hoá và Holodomor cũng trùng với cuộc tấn công của Liên xô vào giới tinh hoa chính trị và văn hoá quốc gia thường bị buộc tội "chệch hướng quốc gia". Hai làn sóng đàn áp chính trị và truy tố của Stalin tại Liên bang Xô viết (1929–34 và 1936–38) đã dẫn tới sự giết hại 681,692 người; con số này gồm bốn phần năm giới tinh hoa văn hoá Ukraina và ba phần tư toàn bộ sĩ quan cao cấp của quân đội.

Chiến tranh thế giới thứ nhất

Sau cuộc Xâm lược Ba Lan vào tháng 9 năm 1939, quân đội Đức và Liên xô phân chia lãnh thổ Ba Lan. Vì thế, Đông Galicia và Volhynia với dân số Ukraina ở đó được tái thống nhất với phần còn lại của Ukraina.

 Sự thống nhất Ukraina lần đầu tiên trong lịch sử được hoàn thành và là sự kiện mang tính quyết định trong lịch sử đất nước.[26][27]

Sau khi Pháp đầu hàng Đức, Romania nhượng Bessarabia và bắc Bukovina theo các yêu cầu của Liên xô. Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Ukraina sáp nhập các quận phía bắc và phía nam của Bessarabia, bắc Bukovina, và vùng chiếm đóng Hertsa của Liên xô.

 Nhưng nó nhượng lại phần phía tây Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Tự trị Moldavia cho nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Moldavia mới được thành lập. Toàn bộ những lãnh thổ giành được đó đều được quốc tế công nhận theo Các Hiệp ước Hoà bình Paris năm 1947.

Quân đội Đức xâm lược Liên xô ngày 22 tháng 6 năm 1941, khởi động một cuộc chiến tranh tổng lực kéo dài trong bốn năm liền. Liên minh phe Trục ban đầu tiến nhanh trước những nỗ lực tuyệt vọng nhưng không hiệu quả của Hồng quân. Trận bao vây Kiev, thành phố được ca ngợi như một "Thành phố anh hùng", diễn ra bởi lo ngại sự kháng cự của Hồng Quân và dân chúng địa phương Hơn 600,000 binh sĩ Xô viết (hay một phần tư của Mặt trận phía Tây) bị giết hay bị bắt giữ tại đó.[28][29]

 Dù đại đa số người Ukraina chiến đấu bên cạnh Hồng quân và cuộc kháng chiến Xô viết,[30] một số thành phần quốc gia Ukraina bí mật lập ra một phong trào quốc gia chống Liên xô tại Galicia, Quân đội Nổi dậy Ukraina (1942) chiến đấu cùng các lực lượng Phát xít và tiếp tục chiến đấu với Liên bang Xô viết trong những năm hậu chiến. Sử dụng các chiến thuật chiến tranh du kích, những người nổi dậy thực hiện ám sát và khủng bố những người họ cho là đại diện, hay hợp tác ở bất kỳ mức độ nào với nhà nước Xô viết.[31][32]

 Cùng lúc ấy một phong trào quốc gia khác chiến đấu bên cạnh quân Phát xít. Tổng cộng, số người Ukraina chiến đấu trong mọi cấp bậc Quân đội Liên xô được ước tính từ 4.5 triệu[30] tới 7 triệu.[33][d] Cuộc kháng chiến du kích của quân kháng chiến ủng hộ Liên xô tại Ukraina ước tính ở con số 47,800 người từ đầu cuộc xâm lược lên tới đỉnh điểm 500,000 người năm 1944; với khoảng 50 phần trăm trong số họ là người Ukraina.[34] Nói chung, các con số lính của Quân đội Nổi dậy Ukraina rất không đáng tin cậy, thay đổi trong khoảng từ 15,000 tới 100,000 chiến binh.

Ban đầu, người Đức được đón nhận như những người giải phóng bởi một số người ở tây Ukraina, họ chỉ mới gia nhập Liên xô năm 1939. Tuy nhiên, sự cai trị hà khắc của người Đức tại các vùng lãnh thổ chiếm đóng cuối cùng đã khiến những người ủng hộ họ quay sang chống đối sự chiếm đóng. Các viên chức Phát xít tại các vùng lãnh thổ Liên xô đã bị chiếm đóng ít có nỗ lực để khai thác sự bất mãn của dân chúng trong lãnh thổ Ukraina với các chính sách kinh tế và chính trị của Stalin.[37]

Thay vào đó, Phát xít duy trì hệ thống trang trại tập thể, tiến hành một cách có hệ thống các chính sách diệt chủng chống lại người Do Thái, bắt những người khác tới làm việc tại Đức, và bắt đầu một cuộc di dân có hệ thống tại Ukraina để chuẩn bị cho việc thực dân hoá của Đức,[37] gồm cả phong toả lương thực với Kiev[cần dẫn nguồn].

Đại đa số trận đánh trong Chiến tranh thế giới thứ hai diễn ra tại Mặt trận phía Đông,[38] và Phát xít Đức chịu 93 phần trăm thương vong tại đây.[39] Tổng cộng thiệt hại với dân số Ukraina trong cuộc chiến được ước tính trong khoảng năm tới tám triệu người,[40][41] gồm hơn một nửa triệu người Do thái bị Einsatzgruppen giết hại, thỉnh thoảng với sự giúp đỡ của những kẻ cộng tác người địa phương. Trong ước tính 8.7 triệu lính Xô viết hi sinh trong chiến đấu chống Phát xít,[42][43][44] 1.4 triệu là người Ukraina.[42][44][d][e] Vì thế tới ngày nay, Ngày Chiến thắng được coi là một trong mười ngày lễ quốc gia của Ukraina.

Hậu Thế chiến thứ hai

Nước cộng hoà bị thiệt hại nặng trong chiến tranh, và cần những nỗ lực to lớn để khôi phục. Hơn 700 thành phố và thị trấn và 28,000 ngôi làng bị phá huỷ.[46] Tình hình càng nghiêm trọng hơn bởi một nạn đói năm 1946–47 do hạn hán và hư hỏng cơ sở hạ tầng khiến hàng chục nghìn người chết.[47]

Năm 1945 Ukraina là một trong những thành viên sáng lập tổ chức Liên hiệp quốc. Máy tính đầu tiên của Liên xô MESM được chế tạo tại Viện kỹ thuật điện Kiev và đi vào hoạt động năm 1950.

Theo các con số thống kê, tới ngày 1 tháng 1 năm 1953, người Ukraina đứng thứ hai chỉ sau người Nga trong số người lớn "bị trục xuất đặc biệt", chiếm 20% tổng số. Ngoài người Ukraina, hơn 450,000 người thuộc sắc tộc Đức từ Ukraina và hơn 200,000 người Tatar Crimea là những nạn nhân của những cuộc di cư bắt buộc.[48]

Sau cái chết của Stalin năm 1953, Nikita Khrushchev trở thành lãnh đạo mới của Liên bang Xô viết. Là Thư ký thứ nhất của Đảng Cộng sản Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Ukraina trong giai đoạn 1938-49, Khrushchev rất gần gũi với nước cộng hoà sau khi nắm quyền trên toàn liên bang, ông bắt đầu nhấn mạnh tình hữu nghị giữa quốc gia Ukraina và Nga.

 Năm 1954, kỷ niệm lần thứ 300 Hiệp ước Pereyaslav được tổ chức khắp nơi, và đặc biệt, Crimea được chuyển từ Liên bang Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Nga cho Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Ukraina.[49]

Tới năm 1950, nước cộng hoà đã vượt qua mức sản xuất công nghiệp thời tiền chiến.[50] Trong kế hoạch năm năm 1946-1950 gần 20 phần trăm ngân sách Liên xô được đầu tư vào Ukraina Xô viết, tăng 5% so với các kế hoạch tiền chiến. Nhờ thế lực lượng lao động Ukraina tăng 33.2% từ 1940 tới 1955 trong khi sản lượng công nghiệp tăng 2.2 lần trong cùng thời kỳ. Xô viết Ukraina nhanh chóng trở thành một nước dẫn đầu Châu Âu về sản xuất công nghiệp.[51]

Nó cũng trở thành một trung tâm quan trọng của ngành công nghiệp vũ khí và nghiên cứu kỹ thuật cao của Liên xô. Vai trò quan trọng đó dẫn tới một ảnh hưởng to lớn tới giới tinh hoa địa phương. Nhiều thành viên ban lãnh đạo Liên xô tới từ Ukraina, đáng chú ý nhất là Leonid Brezhnev, người sau này đã lật đổ Khrushchev và trở thành lãnh đạo Liên xô từ năm 1964 tới năm 1982, cũng như nhiều vận động viên thể thao, nhà khoa học, nghệ sĩ ưu tú khác của Liên xô. Ngày 26 tháng 4 năm 1986, một lò phản ứng của Nhà máy điện hạt nhân Chernobyl nổ, dẫn tới thảm hoạ Chernobyl, tai nạn lò phản ứng hạt nhân nghiêm trọng nhất trong lịch sử.[52]

Ở thời điểm vụ tai nạn bảy triệu người đang sống tại các vùng lãnh thổ bị ô nhiễm, gồm 2.2 triệu người tại Ukraina.[53] Sau vụ tai nạn, một thành phố mới, Slavutych, được xây dựng bên ngoài khu vực cấm làm nơi ở và hỗ trợ cho các nhân viên của nhà máy chất dứt công việc năm 2000. Một báo cáo do Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế và Tổ chức Y tế Thế giới cho rằng 56 thiệt mạng trực tiếp do vụ tai nạn và ước tính có thể có tới 4,000 ca chết vì ung thư khác.

Độc lập

Ngày 16 tháng 7 năm 1990, một nghị viện mới thông qua Tuyên bố Nhà nước Ukraina có Chủ quyền.[55] Tuyên bố lập ra các nguyên tắc tự quyết của nhà nước Ukraina, nền dân chủ, sự độc lập chính trị và kinh tế và sự ưu tiên của luật pháp Ukraina trong lãnh thổ Ukraina so với luật pháp Liên xô. Một tháng trước đó, một tuyên bố tương tự đã được nghị viện Liên bang Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Nga thông qua.

 Việc này khởi đầu một giai đoạn xung đột giữa Xô viết trung ương và các chính quyền cộng hoà mới. Tháng 8 năm 1991, một nhóm bảo thủ trong giới lãnh đạo Cộng sản của Liên xô tiến hành một cuộc đảo chính để loại bỏ Mikhail Gorbachev và tái lập quyền lực của Đảng Cộng sản.

Sau khi cuộc đảo chính thất bại, ngày 24 tháng 8 năm 1991 nghị viện Ukraina thông qua Luật Độc lập trong đó nghị viện tuyên bố Ukraina là một nhà nước dân chủ độc lập.[56]

 Một cuộc trưng cầu dân ý và bầu cử tổng thống đầu tiên diễn ra ngày 1 tháng 12 năm 1991. Ngày hôm đó, hơn 90% người dân Ukraina thể hiện sự ủng hộ Luật Độc lập, và họ bầu chủ tịch nghị viện, Leonid Kravchuk trở thành Tổng thống đầu tiên của đất nước.

Tại cuộc gặp gỡ ở Brest, Belarus ngày 8 tháng 12, tiếp sau là cuộc gặp tại Alma Ata ngày 21 các lãnh đạo Belarus, Nga, và Ukraina chính thức giải tán Liên bang Xô viết và lập ra Cộng đồng các quốc gia độc lập (CIS).

Ban đầu Ukraina được coi là một nước cộng hoà có nhiều điều kiện thuận lợi về kinh tế so với các vùng khác của Liên xô.[58] Tuy nhiên, nước này rơi vào tình trạng giảm phát kinh tế sâu hơn một số nước cộng hoà thuộc Liên xô cũ khác.

 Trong thời kỳ giảm phát, Ukraina mất 60% GDP từ 1991 tới 1999,[59][60] và có tỷ lệ lạm phát ở mức năm con số.[61] Bất mãn với các điều kiện kinh tế, cũng như tình trạng tội phạm và tham nhũng, người dân Ukraina tiến hành các cuộc biểu tình và bãi công có tổ chức.[62]

Nền kinh tế Ukraina ổn định vào cuối thập niên 1990. Một đồng tiền tệ mới, hryvnia, được đưa vào lưu thông năm 1996. Từ năm 2000, nước này đã có tăng trưởng kinh tế thực bền vững khoảng 7% hàng năm.[63][64] Một Hiến pháp Ukraina mới được thông qua năm1996, biến Ukraina thành một nhà nước cộng hoà bán tổng thống và thiết lập một hệ thống chính trị ổn định.

Tuy nhiên, Kuchma bị phe đối lập chỉ trích vì tập trung quá nhiều quyền lực vào tay mình, tình trạng tham nhũng, chuyển tài sản vào tay giới đầu sỏ trung thành, không khuyến khích tự do ngôn luận và gian lận bầu cử.[65] Năm 2004, Viktor Yanukovych, khi ấy là Thủ tướng, được tuyên bố là người giành chiến thắng trong cuộc bầu cử tổng thống, đã bị gian lận ở diện rộng, như Toà án Tối cao Ukraina tuyên bố sau này.[66]

Các kết quả dẫn tới một sự phản đối của công chúng ủng hộ ứng cử viên đối lập, Viktor Yushchenko, người bác bỏ các kết quả và lãnh đạo cuộc Cách mạng Cam hoà bình. Cuộc cách mạng đưa Viktor Yushchenko và Yulia Tymoshenko lên nắm quyền lực, biến Viktor Yanukovych thành phe đối lập.[67] Tuy nhiên Yanukovych lại trở thành Thủ tướng năm 2006[68] cho tới cuộc bầu cử đột xuất vào tháng 9 năm 2007 đưa Tymoshenko lên làm Thủ tướng.[69]

Các cuộc xung đột với Nga về giá khí tự nhiên (ngắn) đã ngừng toàn bộ nguồn cung cấp khí tự nhiên cho Ukraina năm 2006 và 2009, dẫn tới những thiếu hụt khí đốt tại nhiều nước Châu Âu khác (cả hai lần).

Chính phủ và Chính trị

Ukraina là một nước cộng hoà bán tổng thống với các nhánh lập pháp, hành pháp, và tư pháp riêng biệt. Tổng thống được bầu bởi các cử tri phổ thông với nhiệm kỳ năm năm là lãnh đạo chính thức của nhà nước.[72]

Nhánh lập pháp Ukraina gồm nghị viện lưỡng viện 450 ghế, Verkhovna Rada.[73] Nghị viện chịu trách nhiệm chính về việc thành lập nhánh hành pháp và Nội các, do Thủ tướng lãnh đạo.[74]

Luật, đạo luật của nghị viện và nội các, nghị định tổng thống, và đạo luật của nghị viện Crimea có thể bị Toà án Hiến pháp huỷ bỏ, nếu chúng vi phạm vào Hiến pháp Ukraina.

 Các đạo luật có tính quy phạm khác và là đối tượng xem xét lại của nhánh tư pháp. Toà án Tối cao là cơ quan chính trong hệ thống toà án của tư pháp chung. Việc tự quản lý của địa phương được chính thức đảm bảo. Các hội đồng địa phương và các thị trưởng thành phố được dân chúng bầu ra và thực hiện quyền kiểm soát với ngân sách địa phương. Các lãnh đạo vùng và các cơ quan hành chính quận được tổng thống chỉ định.

Ukraina có rất nhiều đảng chính trị, nhiều đảng trong số đó có ít thành viên và không được công chúng biết tới. Các đảng nhỏ thường tham gia vào các liên minh đa đảng (khối bầu cử) cho mục tiêu tham gia vào bầu cử nghị viện.

Quân đội

Sau sự sụp đổ của Liên bang Xô viết, Ukraina được thừa hưởng một lực lượng quân sự 780,000 lính trên lãnh thổ của mình, được trang bị kho vũ khí hạt nhân lớn thứ ba thế giới.[75][76] Tháng 5 năm 1992, Ukraina ký Hiệp ước Cắt giảm Vũ khí Chiến lược (START) theo đó nước này đồng ý trao mọi vũ khí hạt nhân cho Nga và gia nhập Hiệp ước Không Phổ biến Vũ khí Hạt nhân như một quốc gia phi hạt nhân.

 Ukraina phê chuẩn hiệp ước năm 1994, và tới năm 1996 nước này không còn sở hữu vũ khí hạt nhân.[75] Quân đội Ukraina hiện tại lớn thứ hai ở Châu Âu, sau Nga.[77]

Ukraina đã thực hiện các bước kiên quyết nhằm cắt giảm các vũ khí quy ước. Họ đã ký Hiệp ước về Các lực lượng Vũ trang Quy ước tại Châu Âu, kêu gọi giảm bớt số lượng xe tăng, pháo và các phương tiện thiết giáp (các lực lượng quân đội được giảm xuống 300,000 người). Nước này có kế hoạch chuyển chế độ nghĩa vụ quân sự sang một chế độ quân sự tự nguyện không chậm hơn năm 2011.

Ukraina đã đóng một vai trò ngày càng quan trọng hơn trong các chiến dịch gìn giữ hoà bình. Quân Ukraina đã được triển khai tại Kosovo như một phần của Tiểu đoàn Ukraina-Ba Lan.[79] Một đơn vị Ukraina đã được triển khai tại Liban, như một phần của Lực lượng Lâm thời Liên hiệp quốc đảm bảo việc thực hiện thoả thuận ngừng bắn.

 Cũng có một tiểu đoàn bảo dưỡng và huấn luyện được triển khai tại Sierra Leone. Năm 2003–05, một đơn vị Ukraina được triển khai tại Iraq, như một phần của Lực lượng Đa quốc gia tại Iraq dưới quyền chỉ huy của Ba Lan. Tổng cộng số quân Ukraina được triển khai trên khắp thế giới là 562 người.[80]

Sau khi độc lập, Ukraina tự tuyên bố mình là một nhà nước trung lập.[81] Nước này đã có sự đối tác quân sự hạn chế với Nga, các quốc gia thành viên Hội đồng các quốc gia độc lập khắc và một đối tác của NATO từ năm 1994.

Trong những năm 2000, chính phủ nước này nghiêng về phía NATO, và một sự hợp tác sâu hơn với liên minh đã được thiết lập theo Kế hoạch Hành động NATO-Ukraina được ký kết năm 2002. Sau đó nước này đã đồng ý rằng vấn đề gia nhập NATO phải được giải quyết bằng một cuộc trưng cầu dân ý toàn quốc ở một thời điểm nào đó trong tương lai.

Phân chia hành chính

Hệ thống phân chia hành chính Ukraina phản ánh vị thế quốc gia như một nhà nước đơn nhất (như đã được ghi trong hiến pháp nhà nước) với các chế độ pháp lý và hành chính thống nhất cho mỗi đơn vị.

Ukraina được chia thành 24 oblast (tỉnh) và một nước cộng hoà tự trị (avtonomna respublika), Crimea. Ngoài ra, các thành phố Kiev, thủ đô, và Sevastopol, đều có vị thế pháp lý đặc biệt. 24 oblast và Crimea được chia thành 490 raion (quận), hay các đơn vị hành chính cấp hai. Diện tích trung bình của một tỉnh Ukraina là 1,200km2; dân số trung bình của một quận là 52,000 người.[82]

Các vùng đô thị (thành phố) hoặc có thể phụ thuộc vào các cơ quan hành chính nhà nước (như trong trường hợp của Kiev và Sevastopol), oblast hay raion, phụ thuộc vào dân số và tầm quan trọng kinh tế xã hội của nó. Các đơn vị hành chính thấp hơn gồm các khu định cư kiểu đô thị, tương tự như các cộng đồng nông nghiệp, nhưng đô thị hoá hơn, gồm các doanh nghiệp công nghiệp, các cơ sở giáo dục và các kết nối giao thông, và các làng.

Tổng cộng, Ukraina có 457 thành phố, 176 trong số đó được xếp hạng oblast, 279 nhỏ hơn là các thành phố cấp raion, và hai thành phố có vị thế pháp lý đặc biệt. Tiếp theo đó là 886 khu định cư kiểu đô thị và 28,552 làng.

Địa lý

Với diện tích 603,700 km2 và bờ biển rộng 2782 km2, Ukraina là nước lớn thứ 44 trên thế giới (sau Cộng hoà Trung Phi, trước Madagascar). Nó là nước nằm toàn bộ ở Châu Âu lớn nhất và nước lớn thứ hai ở Châu Âu (sau phần Châu Âu của Nga, trước Mẫu quốc Pháp).[3]

Phong cảnh Ukraina gồm chủ yếu là các đồng bằng phì nhiêu (hay thảo nguyên) và các cao nguyên, bị cắt ngang bởi các con sông như Dnieper (Dnipro), Seversky Donets, Dniester và Southern Buh khi chúng chảy về phía nam vào Biển Đen và Biển Azov nhỏ hơn.

Ở phía tây nam, đồng bằng Danube tạo thành biên giới với Romania. Vùng núi duy nhất của nước này là Núi Carpathian ở phía tây, trong đó đỉnh cao nhất là Hora Hoverla ở độ cao 2061 m, và những ngọn núi trên bán đảo Crimea, ở cực nam dọc theo bờ biển.[83]

Ukraina chủ yếu có khí hậu ôn hoà và lục địa, dù một kiểu khí hậu mang nhiều đặc điểm khí hậu Địa Trung Hải hơn có tại bờ biển nam Crimea. Lượng mưa phân bố không đều; cao nhất ở phía tây và phía bắc và thấp nhất ở phía đông và đông nam. Tây Ukraina, có lượng mưa khoảng 1200mm hàng năm, trong khi Crimea có lượng mưa khoảng 400mm.

 Những mùa đông từ mát dọc Biển Đen tới lạnh ở sâu hơn trong lục địa. Nhiệt độ trung bình năm trong khoảng từ 5.5–7 °C (42–45 °F) ở phía bắc, tới 11–13 °C (52–55.4 °F) ở phía nam.

Kinh tế

Trong thời Xô viết, kinh tế Ukraina lớn thứ hai bên trong Liên xô, là một thành phần công nghiệp và nông nghiệp quan trọng trong nền kinh tế kế hoạch của đất nước.[3] Với sự sụp đổ của hệ thống Xô viết, nước này chuyển từ một nền kinh tế kế hoạch sang kinh tế thị trường. Quá trình chuyển tiếp rất khó khăn cho hầu hết dân cư và đa số họ rơi vào tình trạng nghèo khổ.[85]

 Kinh tế Ukraina giảm phát nghiêm trọng trong những năm sau sự sụp đổ của Liên xô. Cuộc sống hàng ngày cho người dân thường sống tại Ukraina là một cuộc chiến đấu. Một số lớn công dân tại các vùng nông thôn Ukraina sống bằng lương thực tự trồng, thường làm hai hay nhiều việc và có được các nhu yếu phẩm thông qua trao đổi.[86]

Năm 1991, chính phủ tự do hoá hầu hết giá cả để giải quyết sự thiếu hụt hàng hoá trên diện rộng, và đã thành công. Cùng lúc ấy, chính phủ tiếp tục bao cấp cho các ngành công nghiệp và nông nghiệp do nhà nước quản lý bằng các khoản tiền công khai. Các chính sách tiền tệ lỏng lẻo đầu thập niên 1990 đẩy lạm phát lên các mức độ siêu lạm phát.

 Năm 1993, Ukraina giữ kỷ lục thế giới về mức lạm phát trong một năm.[87] Những người sống nhờ thu nhập cố định gặp khó khăn nhiều nhất.[21] Giá cả chỉ ổn định lại sau khi đồng tiền tệ mới ra đời, đồng hryvnia, năm 1996.

 Nước này cũng chậm chạm trong việc áp dụng các cải cách cơ cấu. Sau khi giành độc lập, chính phủ đã thành lập một cơ cấu pháp lý cho việc tư nhân hoá. Tuy nhiên, sự chống đối lan rộng với các cải cách bên trong chính phủ và từ một phần đông dân chúng nhanh chóng làm đóng băng các nỗ lực cải cách. Một số lớn doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước đã bị loại khỏi quá trình tư nhân hoá. Cùng lúc ấy, tới năm 1999, GDP đã rơi xuống thấp hơn 40% so với mức năm 1991,[88] nhưng đã hổi phục tới hơn 100% ở cuối năm 2006.[59]

 Đầu những năm 2000, nền kinh tế cho thấy sự tăng trưởng mạnh 5 tới 10% và dựa nhiều vào xuất khẩu với sản xuất công nghiệp tăng trưởng hơn 10% mỗi năm.[89] Ukraina đã bị tác động từ cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008 và vào tháng 11 năm 2008, IMF đã thông qua một khoản vay khẩn cấp $16.5 tỷ cho nước này.[90]

GDP (theo PPP) năm 2007 của Ukraina theo tính toán của CIA, xếp hạng 29 trên thế giới và ước tính ở mức $359.9 tỷ.[3] GDP trên đầu người năm 2008 của nước này theo CIA ở mức $7,800 (theo PPP), xếp hạng 83 thế giới.[3] GDP danh nghĩa (theo dollar Mỹ, được tính theo tỷ giá trao đổi thị trường) là $198 tỷ, xếp hạng 41 trên thế giới.[3]

 Ở thời điểm tháng 7 năm 2008 lương danh nghĩa trung bình tại Ukraina đạt 1,930  hryvnias mỗi tháng.[91] Dù vẫn ở mức thấp hơn các quốc gia trung Âu láng giềng, tăng trưởng thu nhập năm 2008 đứng ở mức 36.8%[92] Theo UNDP năm 2003 4.9% dân số Ukraina sống với dưới 2 dollar Mỹ mỗi ngày[93] và 19.5% dân cư sống dưới ngưỡng nghèo quốc gia cùng trong năm ấy.

Ukraina chế tạo hầu như mọi kiểu phương tiện vận tải và tàu vũ trụ. Các máy bay Antonov và xe tải KrAZ đã được xuất khẩu tới nhiều quốc gia. Đa số xuất khẩu của Ukraina là sang Liên minh Châu Âu và Cộng đồng các quốc gia độc lập.[95]

Từ khi độc lập, Ukraina đã duy trì cơ quan vũ trụ của riêng minh, Cơ quan Vũ trụ Quốc gia Ukraina (NSAU). Ukraina đã trở thành một bên tham gia tích cực vào việc thám hiểm khoa học vũ trụ và các phi vụ tìm kiếm từ xa. Trong giai đoạn 1991 tới 2007, Ukraina đã phóng sáu vệ tinh và 101 phương tiện phóng do họ tự chế tạo, và tiếp tục thiết kế tàu vũ trụ.[96]

 Vì thế tới ngày nay, Ukraina được công nhận là nước hàng đầu thế giới trong việc chế tạo tên lửa và kỹ thuật liên quan tới tên lửa.[97][98]

Nước này nhập khẩu hầu hết năng lượng, đặc biệt là dầu mỏ và khí tự nhiên, và ở mức độ lớn hơn phụ thuộc vào Nga trong năng lượng. Tuy 25% khí tự nhiên ở Ukraina có từ các nguồn nội địa, khoảng 35% đến từ Nga và số còn lại 40% từ Trung Á qua các đường vận chuyển thuộc quyền kiểm soát của Nga. Cùng lúc đó, 85% khí của Nga được chuyển tới Tây Âu qua Ukraina.[99]

Ngân hàng Thế giới xếp hạng Ukraina là quốc gia có thu nhập trung bình.[100] Các vấn đề lớn gồm cơ sở hạ tầng và vận tải kém phát triển, tham nhũng và quan liêu. Năm 2007 thị trường chứng khoán Ukraina ghi nhận mức tăng trưởng cao thứ hai thế giới với 130%.[101] Theo CIA, năm 2006 tư bản hoá thị trường của thị trường chứng khoán Ukraina là $111.8 tỷ.[3]

 Các lĩnh vực đang phát triển của kinh tế Ukraina gồm thị trường công nghệ thông tin (IT), đứng đầu các nước Trung và Đông Âu năm 2007, tăng trưởng khoảng 40%.

Du lịch

Ukraina đứng thứ 8 thế giới về số lượng khách du lịch, theo xếp hạng của Tổ chức Du lịch Thế giới.[103]

Bảy kì quan Ukraina là bảy công trình lịch sử và văn hóa được bình chọn trong một cuộc thi vào tháng 7-2007, ở Ukraina.

Văn hoá

Các phong tục Ukraina bị ảnh hưởng nhiều bởi Thiên chúa giáo, là tôn giáo vượt trội trong nước.[104] Các vai trò giới tính cũng thường có tính truyền thống hơn, và người ông đóng một vai trò lớn hơn trong giáo dục trẻ em so với tại phương Tây.[105]

 Văn hoá Ukraina cũng đã bị ảnh hưởng bởi các nước láng giềng phía đông và phía tây, nó được phản ánh trong kiến trúc, âm nhạc và nghệ thuật Ukraina.

Thời kỳ cộng sản có một ảnh hưởng khá mạnh trong nghệ thuật và văn học Ukraina.[106] Năm 1932, Stalin đã đưa ra chính sách nhà nước chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa tại Liên xô khi ông ban hành nghị định "Về việc Xây dựng các Tổ chức Văn học và Nghệ thuật". Chính sách này đã kìm chế khả năng sáng tác rất nhiều.

 Trong thập niên 1980 chính sách glasnost (mở cửa) được đưa ra và các nghệ sĩ cùng nhà văn Liên xô đã được tự do thể hiện mình như họ muốn..

Truyền thống trứng Phục sinh, còn được gọi là pysanky, có nguồn gốc từ lâu ở Ukraina. Những quả trứng này được vẽ sáp để tạo ra một hình mẫu; sau đó, trứng được nhuộm màu để khiến nó có những màu sắc vui mắt, màu nhuộm không ăn lên những phần đã được vẽ sáp trước đó trên quả trứng. Sau khi toàn bộ quả trứng được nhuộm, lớp sáp bị loại bỏ chỉ để lại những mẫu hình màu sắc đẹp mắt. Truyền thống này đã có từ hàng nghìn năm, và có trước khi Thiên chúa giáo xuất hiện tại Ukraina.[108]

 Tại thành phố Kolomya gần chân dãy các ngọn đồi dưới dãy núi Carpathian năm 2000 một bảo tàng Pysanka đã được xây dựng và nó được coi như một công trình hiện đại của Ukraina năm 2007, một phần của hoạt động xây dựng Bảy kỳ quan của Ukraina.

Món ăn truyền thống Ukraina gồm gà, lợn, bò, cá và nấm. Người Ukraina cũng thường ăn rất nhiều khoai tây, ngũ cốc rau tươi. Các món ăn truyền thống bình dân gồm varenyky (bánh bao hấp với nấm, khoai tây, dưa cải bắp, phó mát làm từ sữa gạn kem hay anh đào), borscht (súp nấu từ củ cải đường, cải bắp và nấm hay thịt) và holubtsy (cải bắp cuộn với gạo, cà rốt và thịt).

 Các món đặc sản Ukraina còn gồm Gà Kiev và Bánh Kiev. Các món đồ uống Ukraina gồm quả hầm, các loại nước hoa quả, sữa, nước sửa (họ làm phó mát sữa gạn bằng thứ này), nước khoáng, trà và cà phê, bia, rượu và horilka.

Ngôn ngữ

Theo Hiến pháp, ngôn ngữ nhà nước của Ukraina là tiếng Ukraina. Tiếng Nga, trên thực tế là ngôn ngữ chính thức của Liên xô, được sử dụng rộng rãi, đặc biệt tại phía đông và phía nam Ukraina.

Theo cuộc điều tra dân số năm 2001, 67.5 phần trăm dân số tuyên bố tiếng Ukraina là tiếng mẹ đẻ và 29.6 phần trăm tuyên bố là tiếng Nga.[110] Đa số người dùng tiếng Ukraina như tiếng mẹ đẻ biết tiếng Nga như một ngôn ngữ thứ hai.

Các chi tiết kết quả khác biệt nhau rất nhiều tuỳ theo từng cuộc điều tra, và thậm chí một câu hỏi chỉ hơi khác biệt cũng dẫn tới những câu trả lời khác từ một nhóm người khá lớn.[f] Tiếng Ukraina chủ yếu được dùng ở phía tây và trung Ukraina. Ở phía tây Ukraina, tiếng Ukraina cũng là nguôn ngữ phổ biến trong các thành phố (như Lviv).

Ở trung Ukraina, tiếng Ukraina và tiếng Nga được sử dụng như nhau trong các thành phố, tiếng Nga hơi phổ biến hơn ở Kiev,[f] trong khi tiếng Ukraina là ngôn ngữ chính tại các cộng đồng nông thôn. Tại phía đông và phía nam Ukrain, tiếng Nga được dùng chủ yếu trong các thành phố, tiếng Ukraina được dùng ở các vùng nông thôn.

Trong một phần lớn thời gian thời kỳ Xô viết, số người nói tiếng Ukraina giảm sút sau mỗi thế hệ, và tới giữa thập niên 1980, việc sử dụng tiếng Ukraina trong đời sống công cộng đã sụt giảm đáng kể.[111]

 Sau khi giành độc lập, chính phủ Ukraina bắt đầu chính sách Ukraina hoá,[112] để tăng cường việc sử dụng tiếng Ukraina, trong khi không khuyến khích tiếng Nga, vốn đã bị cấm hay hạn chế trên truyền thông và phim ảnh.[113][114] Điều này có nghĩa các chương trình tiếng Nga phải được dịch hay chạy tít tiếng Ukraina, nhưng điều này không áp dụng với các tác phẩm truyền thông được thực hiện trong thời Xô viết.

Theo Hiến pháp của Cộng hoà Tự trị Crimea, tiếng Ukraina là ngôn ngữ nhà nước duy nhất của nước cộng hoà. Tuy nhiên, hiến pháp nước cộng hoà đặc biệt công nhận tiếng Nga là một ngôn ngữ được đa số người dân của nó sử đụng và đảm bảo việc sử dụng tiếng Nga 'trong mọi lĩnh vực của đời sống công cộng'.

Tương tự, tiếng Tatar Crimea (ngôn ngữ của 12% dân số Crimea[115]) được đảm bảo một sự bảo hộ đặc biệt của nhà nước cũng như trong 'các ngôn ngữ của các sắc tộc khác'. Những người nói tiếng Nga chiếm đại đa số dân cư Crimea (77%), tiếng Ukraina chỉ chiếm 10.1%, và người nói tiếng Tatar Crimea chiếm 11.4%.[116] Nhưng trong đời sống hàng ngày đa số người Tatar Crimea và người Ukraina ở Crimea sử dụng tiếng Nga.

Văn học

Lịch sử văn học Ukraina có từ thế kỷ 11, sau sự Thiên chúa giáo hóa Kievan Rus’.[118] Các tác phẩm thời gian này chủ yếu là về nghi thức tôn giáo và được viết bằng tiếng Nhà thờ Slavơ cổ.

 Các văn bản lịch sử thời gian này được gọi là biên niên s

DU HỌC NGÀNH Y BẰNG TIẾNG ANH

DU HỌC NGÀNH Y BẰNG TIẾNG ANH

ĐẠI HỌC Y KHOA QUỐC GIA KHARKIV TUYỂN SINH

 

Căn cứ vào hợp đồng tuyển sinh số 6219 ký ngày 26/02/2013 giữa Công ty Alfamed và trường đại học tổng hợp Y khoa Kharkiv về việc Alfamed được ủy quyền toàn quyền tuyển sinh sinh viên nước ngoài đến học và nghiên cứu tại trường Đại Học Tổng hợp Y khoa Kharkiv. Alfamed thông báo tuyển sinh tại thị trường Việt Nam như sau:

I. Hình thức tuyển sinh

Xét tuyển hồ sơ,ưu tiên những sinh viên học có kết quả học tập các môn Toán, Hóa, Sinh từ khá trở lên

 

II. Đối tượng tuyển sinh

Thí sinh thuộc một trong các đối tượng sau sẽ đủ điều kiện trở thành sinh viên của Đại Học Tổng hợp Y khoa Kharkiv

– Tốt nghiệp THPT

– Sinh viên đã tốt nghiệp Đại học, Cao học chuyên ngành kinh tế tại các trường đại học Việt Nam và Quốc Tế

– Sức khỏe tốt

– Không có tiền án tiền sự

 

III. Chuyên ngành đào tạo

– Đa khoa (thời gian đào tạo 6 năm, có hệ tiếng Anh)

– Nha khoa (thời gian đào tạo 5 năm, có hệ tiếng Anh)

 Yêu cầu cho hệ tiếng Anh : Có trình độ tương đương Ielts  5.5 trở lên – không cần chứng chỉ 

– Khóa dự bị TIẾNG NGA  (thời gian đào tạo 1 năm, sau khi kết thúc khóa dự bị sinh viên có thể đăng ký học tất các khoa, chuyên ngành khác của nhà trường).Lưu ý : Trường không có khóa dự bị TIẾNG ANH.

– Học phí tham khảo (vui lòng liên hệ MHA)

 

IV. Hồ sơ nhập học

–  01 Phiếu đăng ký học (theo mẫu của đơn vị tuyển sinh)

–  Giấy khám sức khỏe

–  01 bản dịch công chứng Học bạ THPT

–  01 Bản dịch công chứng Bằng tốt nghiệp THPT

–  01 Bản sao Giấy khai sinh

 

V.   Hạn chót nộp hồ sơ:

30/ 8 /2015

 

VI. Ngày bắt đầu học:

02/09/2015

 

VII.  Địa điểm nhận hồ sơ tại Việt Nam

 

TRUNG TÂM TƯ VẤN GIÁO DỤC QUỐC TẾ MINH HOÀNG AN

Thành phố Hồ Chí Minh : 500 Lạc Long Quân, phường 5, quận 11

VP tại thành phố Hải Dương : 223 Nguyễn Bỉnh Khiêm, Đông Nam Cường

Hoặc liên hệ theo các địa chỉ sau để được tư vấn

Email: duhoc@minhhoangan.edu.vn

ĐT: (08) 39756200 | 0905 605 601

 

Giám đốc công ty Alfamed

S.A. Fartusnaya (đã ký)